Lễ cưới hỏi
"Trăm năm tình viên mãn
Bạc đầu nghĩa phu thê."
1. Quan niệm Hôn Nhân của Người Việt
Trong truyền thống người Việt, Lễ cưới hỏi không chỉ đơn thuần là việc hai cá thể kết hợp với nhau, mà là sự gắn kết "hai họ" (thông gia), là sự công nhận chính thức của cộng đồng và sự ra mắt Tổ tiên ông bà. Vì mang tầm vóc đại sự "trăm năm", lễ cưới thường diễn ra bài bản, trang trọng và đi qua nhiều bước khắt khe từ lúc đánh tiếng cho đến khi rước dâu.
2. Trình tự 3 bước Cưới Hỏi cốt lõi
1. Lễ Dạm ngõ (Chạm ngõ)
Bình dị nhưng vô cùng quan trọng. Đại diện họ nhà trai mang cơi trầu, chai rượu (số lượng rất khiêm tốn) sang nhà gái để chính thức "đánh tiếng" xin qua lại tìm hiểu. Hai bên gia đình bàn bạc công khai xem ngày giờ, thống nhất sính lễ cho Dạm hỏi.
2. Lễ Ăn hỏi (Đính hôn)
Là cái "chốt hạ" của lời hứa hôn. Nhà trai bưng quả (thường là 5, 7, 9 tráp ở miền Bắc hoặc chẵn 6, 8 tráp ở miền Nam) gồm trầu cau, rượu trà, bánh phu thê (xu xê), xôi gấc lợn quay sang nhà gái. Cô dâu chú rể thắp hương bàn thờ gia tiên nhà gái, khẳng định danh phận là rể hiền dâu thảo. Nhà gái sau đó "lại quả" một phần sính lễ cho nhà trai mang về.
3. Lễ Xin dâu và Rước dâu (Thành hôn)
Trước giờ đón dâu, mẹ chú rể cùng một người bác mang tráp têm trầu nhỏ sang nhà gái "xin dâu". Sau đó, đoàn rước dâu tiến vào. Cô dâu diện áo dài hoặc váy cưới, theo chồng về cự dinh. Tại nhà trai, cặp uyên ương thực hiện lễ bái gia tiên nhà nội, dâng trà cho ông bà cha mẹ, tiếp đó là lên sân khấu làm lễ tân hôn chiêu đãi khách.
3. Ý nghĩa của Bánh Phu Thê & Trầu Cau
Sính lễ Việt Nam đặc thù nhất là Trầu cau và Bánh Phu Thê. Miếng trầu là đầu câu chuyện, thể hiện sự kết giao thắm thiết đỏ thắm tình nghĩa. Bánh phu thê (dân gian gọi chệch là bánh xu xê) hình vuông bọc giấy đỏ, gói bên trong lớp nhân đậu xanh vàng ươm, dừa sợi dai dai, tượng trưng cho âm dương ngũ hành, trong ngoài hòa hợp, vợ chồng ngọt ngào keo sơn.